ĐHYHN Tập 2 — Chương 41 Thieu Mau
THIẾU MÁU: PHÂN LOẠI VÀ ĐIỀU TRỊ
Tác giả: Phạm Quang Vinh
THIẾU MÁU: PHÂN LOẠI VÀ ĐIỀU TRỊ
Phạm Quang Vinh
MỤC TIÊU
- Giải thích được khái niệm thiếu máu:
- Trình bày được phân loại thiếu máu theo nguyên nhân
- Trình bày được định hướng chẩn đoán nguyên nhân thiếu máu dựa trên đặc
điểm tế bào và xét nghiệm khác - Trình bày được nguyên tắc và phương pháp điều trị một số nguyên nhân thiếu máu
1. MỞ ĐẦU
Các thành phần hữu hình của máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
Trong đó hồng cầu là thành phần nhiều nhất và làm cho máu có màu đỏ. Hồng
cầu chứa huyết sắc tố (HST) để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển oxy từ phổi đến
tổ chức và vận chuyển carbonic từ tổ chức về phổi để đào thải ra ngoài. Lượng
HST trong máu phải đạt một mức độ cần thiết; dưới mức đó là thiếu máu.
Ở người bình thường lượng HST thay đổi nhiều trong quá trình trưởng
thành cho đến sau 12 tuổi thì khá ổn định. Ngoài ra một số yếu tố liên quan đến
nồng độ HST trong máu:
Phụ nữ có nồng độ HST thấp hơn nam giới. Khi có thai nồng độ HST
thấp hơn bình thường
Người sống lâu ở vùng núi cao, nồng độ oxy trong không khí thấp, có
nồng độ HST cao hơn người sống vùng đồng bằng.
Do vậy để nói một người thiếu máu phải xem người đó là nam, nữ, lứa tuổi
nào và sống trong hoàn cảnh nào. Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: thiếu máu là
tình trạng giảm nồng độ HST ở trong máu so với người cùng tuổi cùng giới cùng
trạng thái và cùng điều kiện sống.
Thiếu máu khá phổ biến, đặc biệt ở các nước, các vùng có đời sống thấp.
Tuy nhiên nhiều khi thiếu máu là triệu chứng của bệnh khác. Thiếu máu có thể
do nhiều nguyên nhân, có thể ở các mức độ và có đặc điểm khác nhau. Để phát
hiện được tình trạng, nguyên nhân và xử trí được thiếu máu thì cần nắm rõ
sinh lý sinh hồng cầu và phản ứng của cơ thể khi thiếu máu
2. SINH LÝ HỒNG CẦU VÀ SINH LÝ BỆNH THIẾU MÁU
Sinh lý hồng cầu:
Hồng cầu là tế bào biệt hóa cao, thành một túi chứa HST; Quá trình sinh
hồng cầu là quá trình sinh sản kèm biệt hóa của tế bào gốc sinh máu để tạo ra
tế bào đầu dòng hồng cầu là nguyên tiền hồng cầu; tiếp theo là quá trình sinh
sản kèm trưởng thành tạo ra các nguyên hồng cầu rồi thành hồng cầu; Sinh
hồng cầu xảy ra ở tủy sinh máu, được điều hòa bởi các chất điều hòa sinh máu
mà thực chất là phối hợp của nhiều cơ quan của cơ thể. Quá trình tổng hợp
huyết sắc tố gắn liền và song song với quá trình trưởng thành của nguyên hồng cầu. HST là protein phức gồm bốn chuỗi globin kết hợp nhân HEM.
Để sinh hồng cầu được bình thường, yêu cầu tủy xương bình thường, các tế
bào gốc hoạt động tốt, các chất điều hòa sinh máu đầy đủ, đầy đủ các nguyên
liệu như các acid amin; các chất khoáng; vitamin: Để tổng hợp HST cần có các:
gen globin bình thường, có đủ các nguyên liệu đặc biệt quan trọng là ion sắt.
Các hồng cầu được sinh ra rồi vào mạch máu, theo tuần hoàn thực hiện
chức năng vận chuyển oxy: Sau một thời gian khoảng 120 ngày hồng cầu sẽ bi
huỷ ở lách và hệ liên võng. Cơ thể luôn luôn phải sản sinh hồng cầu thay thế.
Sinh lý bệnh thiếu máu:
Các lý do làm chậm sinh hồng cầu hay làm hồng cầu bị ra khỏi tuần hoàn
sớm (mất máu) đều dẫn đến thiếu máu. Khi thiếu máu cơ thể có các phản ứng;
Tăng cung lượng tim: tổ chức thiếu oxy sẽ được bù trừ bằng tăng lượng
máu đến qua tăng cung lượng tim.
Tăng sử dụng oxy (ái tính với oxy) ở tổ chức.
Tăng sản xuất hồng cầu: khi thiếu oxy tổ chức sẽ có phản ứng điều hoà
là tăng sản xuất erythropoetin để tăng tạo hồng cầu.
Tuy nhiên, khi cơ thể không đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết hoặc máu
bị mất quá nhiều, cơ thể không sản xuất đủ sẽ thiếu máu. Hoặc do cơ quan sinh
máu là tủy xương bị giảm khả năng sinh hồng cầu, không thể đáp ứng lại được
nhu cầu tăng sản xuất hồng cầu, khi đó xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, xét
nghiệm của thiếu máu.
3. PHÂN LOẠI PHÂN LOẠI THIẾU MÁU
Có nhiều cách phân loại, dựa vào nguyên nhân, mức độ hay đặc điểm hồng:
cầu. Mỗi cách có ứng dụng riêng trong tìm nguyên nhân, điều trị khác nhau.
2.1. Phân loại thiếu máu dựa theo nguyên nhân sinh bệnh
Các lý do làm chậm sinh hồng cầu hay làm hồng cầu bị ra khỏi tuần hoàn
sớm (mất máu) đều dẫn đến thiếu máu.
2.1.1. Do sinh máu
Máu được sinh ra ở tủy xương. Nhiều nguyên nhân khác nhau làm ảnh
hưởng tới sinh máu: có thể do tủy xương (suy tủy xương, giảm sinh tủy, rối loạn
sinh tủy, tủy bị ức chế do các bệnh máu ác tính, ung thư di căn tủy) hay do
thiếu các yếu tố tạo máu; sắt, vitamin B12, acid folic; protein. Bên cạnh đó các
bệnh khác làm rối loạn điều hoà tạo máu cũng gây thiếu máu.
2.1.2. Do mất máu: chảy máu hay tan máu
Chảy máu: có thể cấp tính như xuất huyết tiêu hoá nặng, tai biến sản
khoa, hay mất máu do vết thương; có thể mất máu mạn tính như: trĩ, bệnh lý
sinh trùng đường ruột, xuất huyết tiêu hoá, đái máu.
Tan máu: bình thường hồng cầu sau khi được sinh ra sẽ vào máu và tồn
tại khoảng 120 ngày, sau đó bị huỷ ở lách, tổ chức liên võng. Tan máu là tình
trạng hồng cầu bị huỷ sớm hơn bình thường. Có nhiều nguyên nhân gây tan
máu, có thể phân chia nguyên nhân tan máu là do tại hồng cầu hay ngoài hồng
cầu, bẩm sinh hay mắc phải; chi tiết xin xem bài thiếu máu tan máu.
2.2. Phân loại thiếu máu dựa trên đặc điểm hồng cầu
Chúng ta biết các thông số hồng cầu phản ánh kích thước hồng cầu và
nồng độ huyết sắc tố trong hồng cầu là: thể tích trung bình hồng cầu (MCV) và
nồng độ HST trung bình hồng cầu (MCHC). Căn cứ các thông số này để phân ra
thiếu máu hồng cầu to hay bình thường hoặc nhỏ, thiếu máu bình sắc hay
nhược sắc:
2.2. l Thiếu máu bình sắc hồng cầu to: MCV trên 100f1 (femtolit), MCHC từ
300 - 360 g/l.
2.2.2. Thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường: MCV bình thường (từ 80-
100 femtolit), MCHC bình thường (300 360 g/l).
2.2.3. Thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ: MCV nhỏ hơn 80 femtolit; MCHC
nhỏ hơn 300 g/L
2.3. Phân loại thiếu máu dựa theo mức độ thiếu máu
Các triệu chứng lâm sàng nhiều khi không phản ánh mức độ thiếu huyết
sắc tố, mà còn tuỳ thuộc diễn biến bệnh. Người thiếu máu mạn tính có lượng HST
60-70 g/l vẫn cảm thấy bình thường, trong khi cùng lượng HST đó ở một người bị
mất máu cấp (tan máu hay chảy máu nặng) thì biểu hiện lâm sàng nặng nề. Với
thiếu máu mạn tính thì có thể phân loại dựa vào nồng độ HST như sau:
Ở cả nam và nữ bình thường huyết sắc tố trong máu có khác nhau nhưng
có thể coi dưới 120 g/l là thiếu máu; và có thể chia ra:
Thiếu máu nhẹ: huyết sắc tố từ 90 tới dưới 120 g/1.
Thiếu máu vừa: huyết sắc tố từ 60 dưới 90 g/l.
Thiếu máu nặng: huyết sắc tố từ 30 đến dưới 60 g/1.
Thiếu máu rất nặng: huyết sắc tố dưới 30 g/L.
- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM THIẾU MÁU
3.1. Lâm sàng
3.1.1. Triệu chứng cơ năng
Cảm giác mệt mỏi, chán ăn, hay bị hoa mắt, chóng mặt nhất là khi thay
đổi tư thế như đang ngồi đứng dậy nhanh.
Cảm thấy khó thở: biểu hiện nhẹ là chỉ xảy ra khi gắng sức, đi lại
nhiều; biểu hiện nặng là khó thở thường xuyên.
Cảm giác đánh trống ngực nhất là khi làm việc nặng.
3.1.2. Triệu chứng thực thể
Da xanh, niêm mạc nhợt, gan bàn tay trắng, móng tay khum, tóc khô dễ
gãy; ở phụ nữ có thể có rối loạn hay mất kinh nguyệt.
Tuỳ theo nguyên nhân thiếu máu mà có thể biểu hiện:
Sốt, rét run từng cơn hay sốt liên tục trong tan máu, sốt rét, lơ xê mi.
Bệnh nhân bị nhiễm trùng, nhiễm trùng nặng, có thể kèm loét họng
trong trường hợp thiếu máu do lơ xê mi hay suy tủy.
Có thể có vàng da và niêm mạc, nước tiểu vàng sẫm trong tan máu.
Có thể có dị dạng mặt; sọ lách to, trong thiếu máu tan máu bẩm sinh
(bệnh huyết sắc tố).
Có thể có xuất huyết trong những trường hợp thiếu máu có kèm giảm
tiểu cầu (lơ xê mi cấp hay suy tủy xương)
Có thể có phù; thường gặp trong thiếu máu dinh dưỡng và thiếu máu suy thận:
3.2. Triệu chứng xét nghiệm
3.2.1. Huyết học
Xét nghiệm huyết đồ: số lượng hồng cầu giảm, lượng huyết sắc tố
hematocrit giảm. Chú ý số lượng hồng cầu không phải luôn luôn phản ánh tình
trạng và mức độ thiếu máu. Nhiều trường hợp số lượng hồng cầu bình thường
thậm chí cao hơn bình thường nhưng vẫn thiếu máu, đó là các trường hợp bệnh
huyết sắc tố, ở bệnh này hồng cầu bệnh nhân rất nhỏ.
Một số thông số hồng cầu: thể tích trung bình hồng cầu (Mean Corpuscular volume:
= MCV); lượng HST trung bình hồng cầu (Mean Corpuscular Hemoglobin = MCH, nồng độ HST trung bình hồng cầu (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration = MCHC) c
thể tăng, giảm hay bình thường phụ thuộc nguyên nhân thiếu máu
Xét nghiệm tủy đồ: tuỳ theo nguyên nhân thiếu máu mà có các hình
ảnh tủy đồ khác nhau.
Hồng cầu lưới ở máu và tủy có thể tăng, bình thường hay giảm tuỳ nguyên
nhân thiếu máu.
3.2.2. Xét nghiệm hoá sinh
Một số xét nghiệm hoá sinh có giá trị trong định hướng nguyên nhân thiếu
máu đó là: bilirubin gián tiếp, sắt huyết thanh, ferritin haptoglobin
4. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN THIẾU MÁU
Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu
máu ở các nước, các vùng trên thế giới có khác nhau. Nguyên nhân gây thiếu
máu thường gặp ở người lớn và trẻ em cũng có khác nhau. Sau đây xin liệt kê
Một số nguyên nhân thiếu máu thường gặp ở người lớn và trẻ em tại Mỹ
Bảng 1.1. Thứ tự các nguyên nhân thiếu máu Ở người lớn và trẻ em ở Mỹ
Người lớn Trẻ em
thiếu sắt Thiếu sắt
Bệnh mạn tính, viêm nhiễm Viêm cấp
Bệnh thận | Thalassemia
- Thiếu B12, folat Hồng cầu liềm
Thiếu máu tự miễn Hồng cầu hình cầu
Hồng cầu hình cầu Thiếu enzym
Rối loạn sinh tủy Lơ xê mi
Suy tủy | Bệnh loạn sinh hồng cầu di truyền
Việt Nam cũng gặp nhiều là thiếu máu do thiếu sắt, đặc biệt ở trẻ em và
Vị thành niên. Chúng ta không gặp bệnh hồng cầu hình liềm nhưng lại có tỷ lệ
cao bị bệnh HST E và thể lâm sàng hay gặp là bệnh dị hợp tử kép HST E/β-thal.
Những nguyên nhân gây thiếu máu thiếu sắt là:
Cung cấp thiếu: thức ăn thiếu sắt hay sắt dạng khó hấp thu trong các
thức ăn như sữa.
Không hấp thu được sắt: do thiếu một số enzym tiêu hoá hay giảm
siderophylin protein vận chuyển sắt di truyền, cơ thể không hấp thu được sắt.
Thiếu acid ở dạ dày.
Do nhu cầu sắt tăng: nhu cầu tăng nhưng không đáp ứng kịp, thường
gặp trẻ gái dậy thì, phụ nữ có thai hay cho con bú.
Do mất sắt: trong mất máu mạn tính do loét dạ dày, giun móc (vừa mất
sắt do chảy máu, vừa khó hấp thu do viêm ruột)
Phối hợp các nguyên nhân.
Thường gặp là thiếu máu ở phụ nữ và trẻ em, vừa do nhu cầu tăng, vừa do
cung cấp thiếu.
5. CHẨN ĐOÁN THIẾU MÁU
5.1. Chẩn đoán xác định thiếu máu
Như đã trình bày trên, chẩn đoán thiếu máu dựa vào định lượng huyết sắc
tố trong máu, nhưng giới hạn nồng độ HST trong máu lại tuỳ thuộc vào lứa tuổi
và trạng thái. Trong điều kiện bình thường, các thay đổi huyết sắc tố theo tuổi
được trình bày ở bảng 1.2 sau.
Bảng 1.2. Giới hạn một số chỉ số hồng cầu ở các lứa tuổi
HST (g/dl) Số lượng HC (10¹²/l) MCV (fl)
Tuổi TB ~2SD TB ~2SD TB ~2SD
Trẻ lúc sinh 16,5 13,5 4,7 3,9 108 98
Trẻ em 1 tuần 17,5 - 13,5 5,1 3,9 107 88
Trẻ em 1 tháng 14 10 4,2 3,0 104 85
0,5 - 2 tuổi 12 11 4.5 3,7 78 70
12 tuổi 13,5 11,5 4.6 4,0 86 77
14,0 12,0 4,6 4,0 90 80
Người lớn: Nữ
Nam 15,5 13,5 5,2 4,5 90 80
TB; trung bình; SD: Độ lệch.
5.2. Chẩn đoán phân biệt
Một số trạng thái lâm sàng;
Bệnh nhân suy tim cũng khó thở; mệt mỏi, tuy nhiên biểu hiện thực thể
4
khác và xét nghiệm HST loại trừ được thiếu máu.
Bệnh nhân có các rối loạn tuần hoàn não: có thể bị hoa mắt chóng mặt
nhiên có các dấu hiệu lâm sàng khác là đau đầu, thường ở người lớn
tuy
tuổi, những bệnh nhân này không có triệu chứng thực thể của thiếu
máu, chẩn đoán phân biệt bằng xét nghiệm tế bào máu.
- Một số bệnh nhân có rối loạn vận mạch; thỉnh thoảng da trắng nhợt,
ngất xỉu, xét nghiệm tế bào máu phân biệt được.
Một số hoàn cảnh có kết quả xét nghiệm nồng độ HST thấp.
Các sai sót do quy trình lấy máu; xét nghiệm.
- Máu bị pha loãng do truyền dịch nhiều.
5.3. Chẩn đoán nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân thiếu máu đã được trình bày ở phân loại thiếu
máu. Hiện nay có thể dựa vào một số thông số hồng cầu để định hướng nguyên
nhân thiếu máu.
Dựa vào MCV, RDW và mối quan hệ với hồng cầu lưới để định hướng
nguyên nhân (bảng 1.3). (xem thêm phần phân loại thiếu máu)
Bảng 1.3. Phối hợp hồng cầu lưới và thông số hồng cầu trong chẩn đoán thiếu máu
Thông số HCL < 2% HCL > 2%
MCV thấp RDW bình thường Thiếu máu mạn
MCV, RDW bình thường Thiếu máu mạn
MCV cao RDW bình thường Thiếu máu do hóa chất, rượu Bệnh gan mạn tính
virus.
Suy tủy xương
MCV thấp RDW cao Thiếu sắt Bệnh huyết sắc tố
Thiếu sắt sớm
MCV bình thường, RDW cao Thiếu B12, folat HC hình liềm
Rối loạn sinh tủy
MCV cao, RDW cao Thiếu B12, folat Tan máu tự miễn, bệnh gan
Rối loạn sinh tủy
HC: hồng cầu; HCL: hồng cầu lưới
Dựa vào MCV để chẩn đoán nguyên nhân các thiếu máu (hồng cầu to
hồng cầu bình thường, hồng cầu nhỏ)
Căn cứ vào đặc điểm thiếu máu (kích thước hồng cầu; nồng độ HST trung
bình hồng cầu) và một số xét nghiệm sinh hoá có thể tóm tắt chẩn đoán nguyên
nhân thiếu máu ở các bảng 1.4-1.6 sau;
Bảng 1.4. Chẩn đoán nguyên nhân thiếu máu bình sắc, hồng cầu bình thường
(MCH > 28 pg MCHC > 300 g/l, MCV từ > 80 - 100 fl)
STT Thông số Định hướng nguyên nhân
Hồng cầu lưới tăng Thiếu máu có hồi phục
1.1 Sắt huyết thanh bình thường hoặc giảm Mất máu
1.2. Sắt huyết thanh tăng, bilirubin GT tăng Tan máu
1.2.1 Xét nghiệm Coombs TT dương tính Tan máu tự miễn
Liên quan chặt chẽ với thuốc Tan máu MD do thuốc
Xét nghiệm phát hiện dị ứng thuốc
1.2.2 Xét nghiệm Coombs TT âm tính Bệnh màng hồng cầu?
Sức bền màng hồng cầu biến đổi (Minkowski Chauffard?)
Thiếu enzym G6PD, Pyruvatkinase Bệnh thiếu hụt enzym.
NP Ham-Dacie dương tính Đái HST kịch phát ban đêm?
Xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét Sốt rét
Các xét nghiệm đặc thù khác Các nguyên nhân tan máu
không do miễn dịch khác
2 Hồng cầu lưới không tăng
2.1 Giảm cả bạch cầu, tiểu cầu
ở máu và tủy: Suy tủy, giảm sinh tủy
Có kèm theo rối loạn hình thái tế bào Rối loạn sinh tủy
2.2 Giảm tiểu cầu nặng (lâm sàng có xuất huyết) Xuất huyết giảm tiểu cầu
2,3. Có tế bào bạch cầu ác tính Lơ xê mi cấp
Rối loạn sinh tủy
GT; gián tiếp; MD: miễn dịch; HST: huyết sắc tố; NP: nghiệm pháp; TT: trực tiếp
Bảng 1.5. Chẩn đoán nguyên nhân thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ
(MCV dưới 80 fl, MCH dưới 28 pg, MCHC dưới 300 g/l)
STT Thông số Định hướng nguyên nhân
Giảm sắt huyết thanh
1,1. Chỉ số bão hoà sắt của transferrin giảm TM thiếu sắt
1.2. Ferritin máu tăng
Viêm nhiễm
1.3. Transferrin và sắt giảm rất nặng. TM di truyền hoặc mắc phải do
không có Transferrin.
2 Tăng sắt huyết thanh Thalassemia, HST bất thường
Bảng 1,6. Thiếu máu bình sắc hồng cầu to (MCV trên 100 fl, MCHC trên 320 g/l)
TT Thông số Định hướng nguyên nhân
Có nguyên hồng cầu khổng lồ ở tủy xương Thiếu vitamin B12, (định lượng B12)
2 Không có NHC khổng lồ ở tủy xương
Tăng HC lưới Thiếu B12 hoặc a. folic đang điều trị
TM tan máu hay mất máu cấp
Không tăng HC lưới Suy tủy, giảm sinh tủy, thiếu máu dai
dẳng, tủy bị xâm lấn
HC: hồng cầu; NHC: nguyên hồng cầu
Trong thực tế không phải luôn luôn có sự song hành giữa thể tích hồng cầu và nồng độ huyết sắc tố Nhiều khi gặp kích thước hồng cầu nhỏ nhưng
MCHC bình thường đó là các trường hợp thiếu máu do bệnh HST
(thalassemia, HST bất thường), bệnh hồng cầu hình cầu
6. ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU
6.1. Nguyên tắc điều trị
Kết hợp điều trị triệu chứng với điều trị nguyên nhân và điều trị biến
chứng thiếu máu.
Điều trị triệu chứng kịp thời tránh hậu quả xấu, đồng thời cẩn thận
trong khi chỉ định truyền máu.
Tìm nguyên nhân, điều trị theo nguyên nhân
6.2. Một số biện pháp điều trị thiếu máu
Truyền máu: chủ yếu là truyền khối hồng cầu, chỉ truyền máu toàn
phần khi mất máu nhiều, chỉ định khối lượng truyền theo mức độ thiếu máu và
theo người bệnh cụ thể.
Là chỉ định cần thiết khi bệnh nhân mất máu nhiều (tai nạn, tai biến
ngoại, sản), bệnh nhân thiếu máu nặng, rất nặng, bệnh nhân không sinh được
máu hay bị thalassemia. Trường hợp bệnh nhân thiếu máu vừa và nhẹ cần căn
cứ vào người bệnh cụ thể, thường bệnh nhân có thêm các rối loạn tim mạch,
bệnh nhân bị thalassemia nên lưu ý truyền máu khi thiếu máu vừa.
Chất kích thích tạo máu: yếu tố kích thích sinh hồng cầu được dùng
nhiều là erythropoietin; tuy nhiên chỉ có hiệu quả khi bệnh nhân thiếu
erythropoietin.
Yếu tố tạo máu: các chất thông thường là sắt, vitamin B12, acid folic.
Tuy nhiên cần định lượng các chất này trước khi điều trị. Sẽ rất hiệu quả nếu
thiếu máu do thiếu yếu tố tạo máu.
Một số phương thuốc y học cổ truyền có tác dụng điều trị thiếu máu
nhưng nên sử dụng phối hợp, coi như một biện pháp hỗ trợ
6.3. Điều trị theo một số nguyên nhân cụ thể
Do tủy không sinh được máu: kết hợp truyền khối hồng cầu và điều trị
bệnh nguyên như lơ xê mi, bệnh máu ác tính khác; trường hợp suy tủy có thể dùng
các thuốc ức chế miễn dịch và kháng tế bào lympho T, cắt lách và ghép tủy; bệnh
nhân bị rối loạn sinh tủy cần được điều trị nguyên nhân và định lượng
erythropoietin để điều trị trong trường hợp thiếu hormon này. Bệnh thận cũng
gây thiếu máu; thường là do thiếu erythropoietin nên cũng cần xem xét sử dụng.
Thiếu yếu tố tạo máu: thường là thiếu sắt, vitamin B12 hay acid folic:
Cần bổ sung sắt như Siderfol 350 mg, dùng ngày 1 viên sau ăn, trong 1-2 tháng;
sử dụng B12, acid folic khi thiếu máu hồng cầu to do thiếu các chất này. Đồng
thời cần tìm và điều trị nguyên nhân thiếu yếu tố như trĩ, mất máu mạn gây
thiếu sắt; cắt dạ dày có thể gây thiếu B12 do kém hấp thu. Đối với thiếu máu
thiếu sắt do dinh dưỡng kém, ngoài bổ sung sắt cần kết hợp điều trị toàn diện
Do mất máu: trường hợp mất máu do chảy máu thì cần tìm nguyên nhân
mất máu như loét tá tràng, rong kinh; trĩ để điều trị. Trường hợp tan máu cần
điều trị theo căn nguyên tan máu (xem bài thiếu máu tan máu).
Khuyến Cáo & Miễn Trừ Trách Nhiệm Y Khoa
Hệ thống Trợ lý AI đóng vai trò hỗ trợ giáo dục sức khỏe và hướng dẫn tự chăm sóc hệ vận động. AI không thay thế chẩn đoán hoặc chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Khi xuất hiện các triệu chứng cờ đỏ (sốt, sụt cân, đau dữ dội, mất kiểm soát tiêu tiểu), người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất.