ĐHYHN Tập 2 Tập 2

ĐHYHN Tập 2 — Chương 24 Loan Duong Co

LOẠN DƯỠNG CƠ

LOẠN DƯỠNG CƠ

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

MỤC TIÊU

  1. Trình bày được khái niệm chung về bệnh, nguyên nhân gây bệnh.
  2. Trình bày được các triệu chứng lâm sàng chung của bệnh.
  3. Trình bày các xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định.
  4. Trình bày được đặc điểm của các thể chính của loạn dưỡng cơ (Duchenne, Becker, Emery-Dreifuss, tăng trương lực cơ, mặt - cánh tay - vai, chi - đai).
  5. Trình bày được các phương pháp điều trị bệnh.

1. ĐẠI CƯƠNG

Loạn dưỡng cơ (LDC) hay còn gọi là loạn dưỡng cơ tiến triển là một nhóm bệnh lý cơ có tính chất di truyền, không viêm; đặc trưng bởi cơ bị yếu và huỷ hoại dần dần. Trường hợp LDC đầu tiên được báo cáo bởi Conte và Gioja năm 1836. Họ mô tả 2 anh em trai bị yếu cơ tăng dần, bắt đầu từ năm 10 tuổi. Các cháu trai này dần dần bị yếu cơ toàn thể và phì đại nhiều nhóm cơ, điển hình cho LDC Becker. Năm 1852, Meryon cho rằng bệnh di truyền qua mẹ và chỉ gây tổn thương con trai. Sau đó, Guillaume Duchenne là bác sĩ thần kinh người Pháp mô tả 13 trường hợp bé trai mắc thể nặng và kinh điển nhất của bệnh. Do đó thể LDC này hiện mang tên ông. Ở Mỹ, tỷ lệ LDC phụ thuộc vào thể đặc hiệu của bệnh. Thể LDC Duchenne thường gặp nhất và liên kết giới, gặp 1 trường hợp trong 3500 bé trai mới sinh. Một phần ba các trường hợp là kết quả của đột biến mới tự phát. LDC Becker là thể LDC thường gặp thứ hai với tần suất 1 trường hợp trong số 30.000 bé trai mới sinh. LDC bao gồm khoảng 100 bệnh khác nhau, trong đó có 9 bệnh đã được phân loại chính thức là LDC, còn các bệnh khác chỉ có các triệu chứng tương tự. 9 thể chính của LDC là: Duchenne, Becker, chi - đai...

2. NGUYÊN NHÂN, BỆNH SINH VÀ PHÂN LOẠI

2.1. Nguyên nhân và phân loại LDC

Bệnh LDC gây nên do khiếm khuyết của nhiều gen được xác định là nguyên nhân của các thể LDC. Trong nhiều thể LDC gen bệnh mã hoá một protein là một phần cấu trúc của màng tế bào. Sự rối loạn tổng hợp các protein này làm cho màng tế bào dễ bị tổn thương.

Nguyên nhân của LDC là bất thường mã hóa màng tế bào cơ dystrophin và glycoprotein kết hợp với dystrophin. Có ít nhất 7 type LDC, gây nên bởi đột biến của nhiều gen nằm trên các nhiễm sắc thể khác nhau. LDC Duchenne và Becker là do đột biến gen tổng hợp dystrophin, một thành phần của khung màng tế bào. Khuyết tật gen nằm trên nhánh ngắn của NST X ở vị trí Xp21 bao gồm gần 2 triệu cặp base. Trong thể LDC Emery-Dreifuss là bệnh lý di truyền qua gen lặn, liên kết với giới tính, nhưng khiếm khuyết ở nhánh dài của NST X ở locus Xq28. Trong thể LDC mặt vai di truyền qua gen trội trên NST thường, khiếm khuyết gen ở locus 4q35. Còn trong thể LDC ngọn chi khiếm khuyết gen ở vị trí 2q12-14. Trong thể chi đai lưng, di truyền qua gen lặn trên NST thường, khiếm khuyết gen ở locus 13q12.
Phân loại bệnh kiểu di truyền. Kiểu di truyền bao gồm liên kết giới tính, di truyền trên gen lặn hay gen trội trên nhiễm sắc thể thường.
- LDC liên kết giới tính: Duchenne, Becker, Emery-Dreifuss.
- LDC do gen trội trên nhiễm sắc thể thường: Vai mặt, Ngọn chi, Mắt, Mắt họng.
- LDC do gen lặn trên nhiễm sắc thể thường: Chi đai lưng.

2.2. Cơ chế bệnh sinh LDC

Cơ chế bệnh sinh của thể LDC Duchenne và Becker gắn liền với sự bất thường của dystrophin là protein của cơ. Dystrophin là một protein hình que dài 150 nm với 3684 acid amin, có trọng lượng phân tử 427 kDa. Nó gắn kết với các sợi actin của màng sợi cơ, có 2 vai trò: như một nhíp xe máy có tác dụng giảm xóc ổn định tế bào về mặt cơ học và điều hoà mức calci. Dystrophin chỉ chiếm tỷ lệ 0,002% tổng số protein trong cơ vân, nhưng có vai trò quan trọng trong duy trì sự toàn vẹn của màng tế bào cơ. Dystrophin không chỉ phân bố ở cơ vân, mà còn ở cơ trơn, cơ tim và não. Kích thước lớn của gen mã hoá dystrophin có thể giải thích nhiều đột biến tự phát có thể xảy ra ở nhiều vị trí. Sự phiên mã sai lạc có thể dẫn đến sản xuất các dystrophin không bền vững kém hiệu quả như trong LDC Duchenne hay các protein có trọng lượng phân tử thấp, ít hoạt động trong LDC Becker. Thiếu hụt dystrophin dẫn đến mất ổn định tế bào. Màng sợi cơ vân trở nên không ổn định khi co và duỗi, dòng calci vào tế bào quá mức gây hoại tử tế bào cơ. Sự co cơ cũng dẫn đến rách màng tế bào cơ, sự rò rỉ dần dần các thành phần nội bào. Cơ bị phá huỷ và yếu đi. Kết quả là nồng độ của creatin phosphokinase (CPK) tăng cao trong máu của bệnh nhân mắc LDC Duchenne. Sự suy giảm các đơn vị cơ hoạt động chức năng gây nên tình trạng yếu cơ và co cứng cơ. Ở cả hai thể LDC Duchenne và Becker, đơn vị tế bào cơ dần dần bị chết và bị đại thực bào tiêu hóa. Mặc dù tổn thương trong LDC không qua trung gian miễn dịch, kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA lớp 1 tìm thấy trong màng tế bào cơ bị loạn dưỡng. Đặc điểm này khiến cho các cơ này dễ bị các tấn công qua trung gian tế bào T. Dần dần, các tế bào cơ

chết bị thay thế bởi thâm nhiễm tế bào xơ mỡ, thể hiện về lâm sàng là yếu cơ và giả phì đại. Do dystrophin có ở cả trong cơ tim và trong não, bệnh nhân LDC có thể bị chậm phát triển trí tuệ nhẹ.
Một số thể LDC khác được gây ra bởi tổn thương quá trình mã hóa của một phức hợp DAG protein. Gen mã hóa phức hợp protein này ở NST X. Sự khuyết tật gen sản xuất protein này có thể dẫn đến sự thay đổi tính thấm màng tế bào. Tuy nhiên do sự khác nhau chút ít về cơ chế hoạt động cũng như vị trí các sản phẩm của gen trong cơ thể có các kết hợp khác nhau như là thể loạn dưỡng cơ mắt và chi đai lưng.

  1. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
    LDC khác nhau về hình thức di truyền, tuổi khởi phát, vị trí tổn thương cơ đầu tiên và tỷ lệ tiến triển. Triệu chứng và tiên lượng thay đổi, phụ thuộc vào kiểu LDC. Bệnh có thể gây tổn thương tất cả các cơ hay chỉ một số cơ, có thể xuất hiện ở tuổi thiếu niên hay trưởng thành, có thể tiến triển từ từ hay nhanh chóng, có thể gây tàn phế nặng hay không. Yếu cơ xảy ra dần dần, dẫn đến mất chức năng vận động. Khớp bị co cứng.
    Trong một số thể LDC, tỷ lệ tiến triển và sự tàn phế thay đổi tuỳ theo từng bệnh nhân. Bé trai với LDC Duchenne thường phải ngồi xe lăn vào độ tuổi 12 năm và hiếm khi sống tới tuổi 20. Bệnh nhân mắc LDC mặt vai lại có tuổi thọ bình thường, có thể đi lại nếu cơ chân chỉ bị tổn thương nhẹ. Một phần ba bệnh nhân mắc LDC Duchenne có thể gặp khiếm khuyết về nhận thức, hành vi, thị lực và nói. Hầu hết thể LDC đều có bệnh lý cơ tim.
    Các triệu chứng khác là béo phì, đục thuỷ tinh thể, rụng tóc vùng trán, sụp mí mắt, suy sinh dục, suy giảm trí tuệ (trong thể loạn dưỡng tăng trương lực cơ).

3.1. Các thể lâm sàng của loạn dưỡng cơ

3.1.1. Loạn dưỡng cơ Duchenne

Loạn dưỡng cơ Duchenne là một bệnh di truyền lặn liên quan với NST X. Đó là thể LDC thường gặp nhất và chủ yếu trẻ em trai bị mắc bệnh.
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhi thường xuất hiện lúc 3-5 tuổi. Bệnh bắt đầu tổn thương ở cơ khung chậu, chi trên. Trẻ em chậm phát triển các kỹ năng vận động cơ bản và phối hợp các động tác. Dấu hiệu thường gặp: đau bắp chân khi vận động (30%), giả phì đại bắp chân (60%), lưỡi to (30%), khó khăn ngồi dậy, đứng lên, khó giữ thăng bằng, thường hay ngã, khó đi bộ, chạy, nhảy do yếu cơ chân, dáng đi lạch bạch, vẹo cột sống.
Về khả năng vận động, trẻ thường chậm biết đi và không chạy được một cách bình thường, trẻ có nhiều cử động nhưng khó tiến về phía trước, vì trẻ không nâng đầu gối lên được, dáng đi lạch bạch và đi nhón chân xuất hiện sớm. Dần dần bệnh nhân đi lại, trèo cầu thang và đứng dậy khi đang ngồi ghế đều khó khăn, cột sống ưỡn quá mức để giữ thăng bằng. Trẻ thường dễ bị ngã khi xô đẩy, chen lấn, sau đó khó dậy được. Để ngồi và đứng dậy được, trẻ thường dùng thao tác đặc trưng (dấu hiệu Gowers): trẻ lăn cuộn mình để quỳ, vươn cẳng tay chống xuống đất để nâng mông lên và làm chân

duỗi thẳng, sau đó chuyển tay về đầu gối và đẩy nâng người lên (thao tác trèo trên thân mình).
Giai đoạn sau, phản xạ gối có thể mất nhưng vẫn còn phản xạ gót, điều này chứng minh do sự yếu phần xa cơ gốc chi ở giai đoạn tiến triển. Có thể gặp yếu cơ bám da mặt nhẹ nhưng nói, nuốt và nhãn cầu vẫn bình thường.
Co cứng cơ chậu, đùi và cơ chày làm hạn chế động tác gấp vận động khớp háng, co cứng gân gót góp phần tạo nên dáng đi nhón chân. Ở độ tuổi lên 10, bệnh nhân cần đai chỉnh hình khi đi lại. Hầu hết các bé trai đều không thể đi lại được ở độ tuổi 12, phải dùng xe lăn.
Tổn thương tim phổi gặp ngay từ khi bắt đầu bị bệnh. Điện tim đồ cho thấy sóng Q sâu, và sóng T đảo ngược ở đạo trình phải, sóng R cao, sóng T đảo ngược, suy hô hấp, bệnh nhân cần máy trợ thở. Có thể có triệu chứng: nhịp tim nhanh, suy tim ứ huyết. Đôi khi gặp giãn dạ dày cấp.
Một phần ba trẻ chậm phát triển trí tuệ, triệu chứng này không đặc hiệu. Bệnh nhân hầu hết tử vong ở độ tuổi 25 do viêm phổi, yếu cơ hoành và cơ tim.
Chẩn đoán lâm sàng loạn dưỡng cơ Duchenne các thể điển hình biết rõ yếu tố di truyền thường không khó, chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã nêu trên. Về mặt xét nghiệm, men CK tăng cao trong huyết thanh trên 20 lần. Chú ý: 5-10% những trẻ bị nhiễm trùng được xét nghiệm máu thường quy nếu thấy CK tăng cao cần phải nghi ngờ một bệnh cơ. Phân tích DNA cho có sự xoá bỏ ở vị trí Xp21. Đột biến điểm giải thích phần còn lại nhưng khó xác định. Sự xoá bỏ ở vị trí Xp21 cùng với các triệu chứng lâm sàng đặc trưng có giá trị chẩn đoán cao.

3.1.2. Loạn dưỡng cơ Becker

Đây là bệnh di truyền qua gen lặn liên kết với NST X. Thường gây bệnh cho bé trai, do di truyền qua mẹ mang gen bệnh. Các triệu chứng bao gồm yếu cơ lan toả, chủ yếu ở chi trên và cơ khung chậu. Thường phì đại cơ dép cẳng chân. Có thể có tổn thương tim. Bệnh nhân có thể sống tới tuổi 40 hay 50.
Thể bệnh này giống loạn dưỡng cơ Duchenne ở một số đặc điểm chủ yếu sau: Liên quan đến NST X, phì đại bắp chân, yếu các cơ gốc chi là chính và nồng độ men CK huyết thanh tăng cao. Hai điểm khác là khởi phát thường sau 12 tuổi và tiến triển chậm hơn, còn đi được sau 20 tuổi.

3.1.3. Loạn dưỡng cơ Emery-Dreifuss

Là loạn dưỡng liên kết giới tính bất thường, thể hiện bởi co cứng cơ và bệnh tim. Bệnh thường ở tuổi thiếu niên và vị thành niên, gây co cứng cơ, yếu cơ bắt đầu từ chi dưới, tiến triển đến gốc chi dưới, đai lưng. Điển hình là co cứng cơ gân Achilles, gấp cứng khuỷu, gối, duỗi cổ cứng, co cứng cơ cạnh cột sống thắt lưng. Yếu cơ nổi bật ở mặt ngoài cánh tay, cơ nhị đầu, cơ tam đầu hơn các cơ đai vai. Cơ cẳng chân yếu. Hầu hết bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền và loạn nhịp tim, dẫn đến nguy cơ đột quỵ và tử vong. Tử vong ở tuổi 40, 50 do bloc dẫn truyền nhĩ thất, xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh.

3.1.4. Loạn dưỡng cơ mặt - vai - cánh tay

Loạn dưỡng mặt - vai - cánh tay di truyền qua gen trội trên NST thường gây nên yếu cơ mặt và chi trên. Thể LDC này có thể bị ở 2 giới ở bất kỳ tuổi nào. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi thiếu niên, cuối thời kỳ vị thành niên. Bệnh gây yếu dần cơ mặt, tay, chân và các cơ quanh khớp vai và ngực. Vận động của chi trên và cơ mặt, vùng ngực vai bị giảm sút, nhô xương bả vai. Bệnh tiến triển chậm và thay đổi từ mức độ nhẹ đến tàn phế.
Trong một gia đình, bệnh có thể ở mức độ nhẹ hay tàn tật trên các thành viên khác nhau, tiến triển chậm, giảm tuổi thọ ít. Các bệnh nhân nặng có thể phải ngồi xe lăn.
Trong loạn dưỡng cơ mặt - vai - cánh tay điển hình có các đặc điểm lâm sàng sau. Yếu cơ mặt, không chỉ biểu hiện bằng hạn chế vận động môi, mà còn thấy môi hơi trễ và lộn ra ngoài, khe mắt hở to. Bệnh nhân phàn nàn không thể huýt sáo hoặc thổi bóng được. Cánh xương bả vai nhô lên trông như cánh gà. Nếu yêu cầu bệnh nhân đẩy tay vào tường ở ngang vai hoặc cố dang cánh tay, triệu chứng này rõ hơn. Bệnh nhân không giơ tay lên ngang vai được, mặc dù cơ delta không yếu. Sự hạn chế vận động này là do sự cố định xương bả vai một cách không thích hợp. Đai vai có hình dạng đặc trưng, nhìn từ phía trước xương đòn có vẻ xuống thấp, đỉnh xương bả vai nhô lên bên trên hố thượng đòn.
Yếu cơ gốc chi ở chân, tay hơn là cơ mác và cơ chày trước. Các triệu chứng khác như điếc, chậm phát triển trí tuệ, liệt mặt hai bên, bệnh mạch máu võng mạc như giãn từng điểm và xuất tiết có thể gặp.
Cận lâm sàng: Điện cơ và sinh thiết cơ có biểu hiện đặc trưng của một bệnh cơ, những biến đổi tổ chức nhẹ. Nồng độ men CK huyết thanh bình thường. Đó là điểm khác nhau cơ bản với loạn dưỡng cơ Duchenne.
Thể này cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau: Teo cơ do tủy sống: có sự phân bố yếu cơ giống loạn dưỡng cơ mặt - vai - cánh tay, nhưng sự khác nhau cơ bản dựa vào sinh thiết cơ và điện cơ. Viêm da cơ: thấy các tế bào viêm trong tiêu bản sinh thiết cơ. Teo cơ vai - mác, không có teo cơ mặt.

3.1.5. Loạn dưỡng cơ mắt họng

Di truyền qua gen trội trên NST thường, xuất hiện ở độ tuổi từ 20-30. Cơ hầu họng bị tổn thương dẫn đến nuốt khó và nói khó.

3.1.6. Loạn dưỡng cơ ngoại vi

Khởi phát từ 20-60 tuổi, yếu, tiêu cơ bàn tay, cẳng tay, chân, tiến triển dần dần và không đe doạ tính mạng.

3.1.7. Loạn dưỡng cơ chi đai

Có nhiều thể di truyền khác nhau, qua gen trội và gen lặn, trong đó qua gen lặn thường gặp hơn. Gây tổn thương cả bé trai và bé gái. Tổn thương cả chi trên và chi dưới. Gặp ở tuổi thanh niên hoặc người lớn, mức độ nặng nhẹ ở các bệnh nhân gia đình có khác nhau. Biểu hiện yếu cơ gốc chi xảy ra di truyền trội hoặc lặn.
Chân thường bị teo cơ đầu tiên, vì vậy bệnh nhân leo cầu thang và ngồi ghế đứng dậy khó, sau đó xuất hiện dáng đi lạch bạch. Giai đoạn muộn, bệnh nhân khó đưa tay lên trên và có thể thấy xương bả vai gồ lên như cánh gà, cơ vùng chậu teo. Phản xạ gân cơ tứ đầu thường mất trước phản xạ gót, các cơ mặt ít khi bị teo, bệnh tiến triển chậm.
Điện cơ và sinh thiết cơ có biến đổi kiểu bệnh cơ. Nồng độ men CK huyết thanh tăng nhẹ. Bệnh được xác định ở vị trí gen 13q12 và sản phẩm gen là một glucoprotein, đó là một phần của phức hợp dystrophin ở màng tế bào.
Loạn dưỡng cơ chi đai là một chẩn đoán loại trừ bao gồm các hội chứng bệnh cơ yếu cơ gốc chi, thường tiến triển chậm, và không đáp ứng với các tiêu chuẩn của loạn dưỡng cơ Duchenne, mặt vai cánh tay hoặc tăng trương lực.

3.1.8. Loạn dưỡng cơ tăng trương lực

Là bệnh thường gặp nhất ở người trưởng thành, biểu hiện đa dạng ở nhiều cơ quan, di truyền trội, bao gồm: co cứng cơ kéo dài, đục thuỷ tinh thể, bất thường tim, và rối loạn nội tiết. Bệnh nhân có khuôn mặt mỏng, dài, sụp mi và cổ hạc.
Tỷ lệ mới mắc khoảng 5/100.000 dân nhưng không phân biệt chủng tộc, vị trí địa lý, là thể hay gặp nhất của loạn dưỡng cơ. Chẩn đoán thường được khẳng định khi thấy 13,5/100.000 trẻ sinh ra bị teo các cơ ức đòn chũm nhỏ, teo cơ ngọn chi và tăng trương lực khi gõ hoặc nắm tay.
Triệu chứng lâm sàng: bệnh khởi phát ở độ tuổi 20-40. Có tình trạng loạn trương lực cơ (co thắt cơ kéo dài ở các ngón tay và các cơ mặt), dáng đi bước thấp bước cao. Các cơ khó nhả cơ sau khi co đúp. Vận động nhãn cầu bị hạn chế. Nói khó và nuốt khó cũng có thể gặp. Các cơ thái dương teo nhỏ, sụp mi, ở nam làm cho khuôn mặt có hình dạng đặc biệt, vì vậy bệnh nhân có khuôn mặt rất đặc trưng: mặt dài, gầy và sụp mi. Các cơ ức đòn chũm teo nhỏ và yếu, cổ cúi hơi ngả về phía trước.
Càng ở chi, các cơ ngọn chi như bàn tay, bàn chân đều bị tổn thương như nhau, nổi bật là yếu các cơ gấp ngón, yếu cơ chân nên tạo ra dáng đi bước cao. Các cơ hô hấp cũng có thể bị yếu, đôi khi xuất hiện trước yếu cơ gốc chi.
Các triệu chứng khác có thể gặp như: thể trạng toàn thân gầy, mất phản xạ gân xương, ngủ lịm, tăng tính nhạy cảm với thuốc mê. Tốc độ tiến triển chậm và tuổi thọ ít bị ảnh hưởng, nhưng một số ít người có thể trở thành tàn tật nặng phải ngồi xe lăn.
Cận lâm sàng: đục thuỷ tinh thể là triệu chứng hầu như hay gặp nhất nhưng phải nhiều năm mới phát hiện. Bệnh nội tiết hay gặp ở nam giới như hói trán bất thường, teo tinh hoàn. Ở phụ nữ, các rối loạn về kinh nguyệt và suy buồng trứng ít gặp, tính sinh sản giảm ít. Đái tháo đường gặp tỷ lệ cao hơn so với cộng đồng. Rối loạn tim như: block nhĩ thất độ 1 hoặc block nhánh, đôi khi rối loạn nhịp mạch biểu hiện chủ yếu trên điện tim, có các loạn nhịp được dẫn truyền

phát hiện nhưng ít khi có biểu hiện lâm sàng và hiếm khi phải đặt máy tạo nhịp. Chứng đại tràng dài và bán tắc có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh nhân thường bị táo bón.
Cận lâm sàng: điện cơ biểu hiện bằng chứng của bệnh cơ và sự tạo hình sáp, yếu mỏi cơ đặc trưng sau khi phóng xung của tăng trương lực cơ. Sinh thiết cơ có biến đổi nhẹ nhưng không đặc hiệu. Nồng độ men CK có thể bình thường hoặc tăng nhẹ nhưng không đến mức tăng cao như bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne hoặc viêm da cơ. Gen bệnh nằm ở vị trí 19q13.2. Sản phẩm gen có thể nằm trong cơ chế bệnh sinh là proteinkinase, men này giảm trong cơ tương ứng với các mức độ của bệnh. Kiểu di truyền trội ở những thành viên khác trong gia đình cũng giúp cho việc chẩn đoán loạn dưỡng cơ tăng trương lực.

3.1.9. Loạn dưỡng cơ bẩm sinh

Khởi phát ngay từ lúc mới sinh. Yếu cơ toàn thể, có thể có biến dạng khớp. Kèm theo vẹo cột sống, vấn đề hô hấp, chậm phát triển trí tuệ, khiếm khuyết mắt hay động kinh, tiến triển chậm, tuổi thọ kém hơn bình thường. Di truyền qua gen trội hay lặn.

4. CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định LDC dựa trên kết hợp các triệu chứng lâm sàng điển hình, tăng creatine phosphokinase, điện cơ, điện tim, sinh thiết cơ, và phân tích DNA. Thăm khám lâm sàng và tiền sử bệnh giúp xác định thể LDC.
Định lượng các enzym cơ là quan trọng để chẩn đoán và theo dõi bệnh cơ. Đó là các men cơ: creatine kinase (CK), creatine kinase MB (CK-MB), Aldolase (ALD), Lactat-dehydrogenase (LDH), hydroxybutyrat-dehydrogenase (a-HBDH), glutamat-oxalacetat-transaminase (GOT), và glutamat-pyruvat-transaminase (GPT). Trong LDC Duchenne, các men cơ tăng trong 3 năm đầu, tối đa vào độ tuổi 3-4 và sau đó giảm dần. Thể LDC Duchenne có thể được phát hiện ở trẻ mới sinh bằng định lượng men CK trong huyết thanh.
Trên điện cơ đồ, không có rối loạn cảm giác và mất chi phối thần kinh trừ khi có một bệnh khác kết hợp.
Sinh thiết cơ hiện nay là test xác định chẩn đoán LDC. Các thay đổi tổ chức học trong LDC phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh và cơ được chọn để sinh thiết, vị trí hợp lý là cơ rộng ngoài. Những biến đổi tổ chức học cho thấy sự thoái hoá và sự tái tạo của cơ, nhưng không có triệu chứng của bệnh rối loạn chuyển hoá.

5. ĐIỀU TRỊ

Hiện nay chưa có điều trị đặc hiệu. Điều trị triệu chứng bao gồm tập thể dục, vật lý trị liệu, dụng cụ chỉnh hình, thuốc, chăm sóc hô hấp, phẫu thuật, có thể giúp bảo tồn chức năng cơ, phòng co cứng khớp và cải thiện chất lượng cuộc sống. Bệnh nhân còn cần được chăm sóc bởi các chuyên gia thần kinh, tiêu hoá,

hô hấp, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, tâm lý, phục hồi chức năng trong suốt cuộc đời.

5.1. Chế độ ăn uống sinh hoạt

Bệnh nhân cần có chế độ ăn uống giàu thịt nạc, đồ biển, sữa, trứng, dầu oliu, rau xanh, ớt chuông, lúa mì, việt quất, dâu tây. Cần giảm tiêu thụ tinh bột, mỡ, bơ, cà phê, rượu. Tập thể dục, tập thể dục nhịp điệu. Cần dùng các thực phẩm bổ sung vitamin E, A, D và ATP.

5.2. Vật lý trị liệu

Các bệnh LDC thường gây co cứng cơ, ngắn gân, giảm vận động khớp. Bài tập hướng tới duy trì tầm vận động của khớp như bàn chân, gối, háng, tay, đai. Tập nói. Sử dụng tắm nước nóng. Các bài tập hô hấp cần cho một số thể LDC như chi khuỷu.
Về các dụng cụ hỗ trợ, có thể dùng các dụng cụ chỉnh hình như đai cổ bàn chân hay xe lăn, khung đứng, hỗ trợ cơ tay hay chân, giúp cho cơ và gân căng và mềm dẻo, giảm sự tiến triển của co cứng cơ. Dùng gậy chống khi đi bộ hay dùng xe lăn để có thể di chuyển và giảm phụ thuộc. Dùng máy trợ thở hô hấp.

5.3. Thuốc

Có nhiều loại thuốc làm chậm hay ngăn cản sự hủy hoại cơ, tăng tổng hợp cơ, các bổ sung creatin và glutamin làm gia tăng tạo và tích trữ năng lượng cho cơ. Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu gen liệu pháp.
Corticosteroid: có thể làm giảm sự hủy hoại cơ, giúp cải thiện sức mạnh cơ, chống viêm và ức chế miễn dịch, làm chậm tiến triển bệnh, nhưng không ảnh hưởng đến kết cục. Prednison có tác dụng trong thể LDC Duchenne. Prednison phòng co cứng và duy trì trương lực cơ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng prednison có thể kích thích sản xuất protein cơ. Thuốc có tác dụng giải phóng đường và năng lượng. Tuy nhiên khi ngừng thuốc thì hiệu quả cũng mất đi nhanh chóng. Thêm nữa thuốc cũng có nhiều tác dụng phụ. Thường dùng thành đợt với liều 0,75 mg/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Cần dùng thêm calci. Có thể dùng Deflazacort là corticoid tăng dị hoá.
Albuterol: Albuterol là thuốc chống miễn dịch, kích thích tăng trưởng cơ.
Creatine: là chất bổ sung dinh dưỡng, creatin giúp cơ co mạnh hơn, nhóm phosphat mang đến cho tế bào cơ để giúp co cơ. Creatin có trong mang cá, thịt, hay bột pha nước. Liều dùng 5 g/ngày đủ để cải thiện cơ lực.
Steroids đồng hoá: có thể dùng Decadurabolin 50 mg tiêm bắp 1 lần/3 tuần.
Thuốc chẹn kênh calci: thuốc chẹn kênh calcium làm chậm tiến triển của LDC Duchenne. Calci bị rò rỉ khỏi tế bào, gây tổn thương mô bên cạnh. Việc dùng thuốc này làm bloc kênh calci, ngăn chặn rò rỉ calci.

Ngoài ra, trong thể LDC tăng trương lực cơ, Emery-Dreifuss, cần đặt máy tạo nhịp để phòng đột tử do biến chứng tim. Có thể dùng thuốc điều trị tổn thương tim trong một số thể LDC. Trong thể co cứng cơ, có thể dùng mexiletin (Mexitil), phenytoin (Dilantin, Phenytek), carbamazepin (Tegretol, Carbatrol), quinin và procainamid (Procanbid, Pronestyl) có tác dụng giảm trương lực cơ, tuy nhiên hiện vẫn chưa có điều trị lâu dài.
MYO-029: là thuốc ức chế myostatin. Myostatin là một protein ức chế sự tăng trưởng của cơ. MYO-029 là kháng thể người tái tổ hợp, thiết kế để gắn kết và ức chế hoạt động của myostatin.
Liệu pháp gen trị liệu: Định vị gen đặc hiệu gây nên LDC có thể giúp cho điều trị phân tử, vẫn đang ở giai đoạn thực nghiệm.
Tư vấn di truyền cần thiết đối với các gia đình bệnh nhân để xác định tình trạng mang gen bệnh của các thành viên khác của gia đình, do vậy cần khuyến cáo test trước sinh. Ngoài ra hiện nay người ta cũng đang tiến hành thử nghiệm liệu pháp tế bào gốc trong điều trị LDC.

5.4. Phẫu thuật chỉnh hình

Phẫu thuật giải phóng gân háng hay gối, gân Achilles làm giảm sự co ngắn cơ, giúp giảm đau cho khớp. Phẫu thuật kết hợp gai sau đốt sống với khung chậu cho phép làm chỉnh vẹo cột sống, giữ thăng bằng khi ngồi thẳng lưng. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu bệnh nhân có dung tích sống thấp (< 30%), nguy cơ biến chứng hô hấp cao hơn nhiều và khi đó thì lại không nên mổ chỉnh sửa vẹo cột sống. Sau phẫu thuật vẹo cột sống, bệnh nhân cần hỗ trợ hô hấp và lưu trú lâu hơn trong đơn vị hồi sức tích cực. Phẫu thuật khác để khắc phục co cứng kiểu bàn chân ngựa là làm dài gân.
Một số chống chỉ định phẫu thuật tương đối trong LDC là béo phì, yếu cơ nhanh chóng, tình trạng tim phổi yếu.

⚠️

Khuyến Cáo & Miễn Trừ Trách Nhiệm Y Khoa

Hệ thống Trợ lý AI đóng vai trò hỗ trợ giáo dục sức khỏe và hướng dẫn tự chăm sóc hệ vận động. AI không thay thế chẩn đoán hoặc chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Khi xuất hiện các triệu chứng cờ đỏ (sốt, sụt cân, đau dữ dội, mất kiểm soát tiêu tiểu), người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất.

🔍
Gõ từ khóa để tìm kiếm nhanh trong toàn bộ 132+ tài liệu dự án CXK.